Tổ Quốc yêu thương


CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2014


Đồng hồ

LỊCH ÂM DƯƠNG

Mừng ngày Nhà Giáo 20.11

20112

Lời hay ý đẹp

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Happy_new_year.swf Yak130_In_Action_2013_HD1.flv Yak130_In_Action_2013_HD.flv 144.flv May_Bay_Nem_Bom_B2__Khoa_hoc_quan_su.flv Be200477x28920120820161408.jpg Download.jpg Viet_Nam_Danh_Roi_May_Bay_B52_nhu_the_nao.flv 35__2007_Mi35_MAKS_2007.flv 214____2013_Tu214ON_Open_Skies_MAKS_2013.flv ____76__2013_The_Best_of_the_Chinese_IL76_MAKS_2013.flv 35__2013_Mi35M_MAKS_2013_35_Mi35.flv __2009_34_28_171_52_Helicopters_MAKS_2009_Mi34_Mi28_Mi171_Ka52.flv So_sanh_dan_may_bay_chien_dau_sieu_khung_cua_khong_quan_nga_my.flv 2_1.jpg Canh_dep_Viet_Nam_Dat_Nuoc_Con_Nguoi.flv Deo3.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Danh lam Thắng cảnh

    www.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.ws

    Liên kết Web hữu ích

    Mời khách dùng trà

    Liên kết

    Thời tiết

    Tiện ích Web

    Bách khoa toàn thư


    Chơi xấu

    Chúc mừng năm mới

    Chào mừng kỷ niện 71 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam*

    Bien dao

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN

    Tausanbay3.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Văn Thâm (trang riêng)
    Ngày gửi: 19h:52' 29-08-2014
    Dung lượng: 66.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN: Từ UAV đến B-52

     

    Với tham vọng giành ưu thế nhờ vào vũ khí tối tân trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã triển khai hầu hết các thành tựu quân sự hiện đại nhất nhưng kết quả sau cùng, vẫn không thể chiến thắng.

    Theo thống kê của tạp chí Air Force dựa trên số liệu từ Bộ Quốc phòng Mỹ, trong chiến tranh Việt Nam, không quân Mỹ tiến hành tổng cộng hơn 5,2 triệu lần xuất kích hoạt động ở khu vực Đông Dương. Trong khi đó, con số này trong Thế chiến 2 chưa đến 2,4 triệu lần.

     
    Không quân Mỹ phân bổ tại Đông Nam Á trong chiến tranh Việt Nam - Đồ họa: Sơn Duân/Air Force

    3.435 phi vụ UAV

    Hồi thập niên 1960, Lầu Năm Góc từ sớm đã triển khai máy bay không người lái (UAV) đến tham gia chiến tranh Việt Nam. Theo một tài liệu nghiên cứu về UAV được đăng tải trên trang mạng của Lầu Năm Góc, suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã điều động loại Ryan Lightning Bug thực hiện khoảng 3.435 phi vụ. Cụ thể hơn, hầu hết các phi vụ được tiến hành bởi dòng UAV  Ryan Lightning Bug. Theo cuốn sách Unmanned Aviation: A Brief History of Unmanned Aerial Vehicles của chuyên gia Laurence R.Newcome, Lầu Năm Góc lần đầu triển khai dòng UAV này do thám miền Bắc Việt Nam vào ngày 20.8.1964 và nối tiếp hoạt động mãi đến tháng  6.1975. Khi đó, Ryan Lightning Bug được trang bị camera và máy chụp hình để ghi lại hình ảnh, rải truyền đơn, hệ thống điện tử nhận diện tên lửa đất đối không, định vị…

     

     
     

    Ryan Firebee

    Vào thập niên 1950, Lầu Năm Góc đạt bước ngoặt quan trọng về phát triển UAV khi chính thức thử nghiệm Ryan Firebee có trần bay lên đến 18 km. Ryan Firebee được phát triển dựa trên hợp đồng giữa Lầu Năm Góc với Công ty hàng không Ryan. Ryan Firebee có nhiều phiên bản khác nhau, trong đó phiên bản tiêu chuẩn có chiều dài khoảng 7 m, sải cánh 3,9 m, trần bay 18 km, tốc độ tối đa khoảng 1.100 km/giờ, đủ sức hoạt động liên tục trong 75 phút.

     

     

    Từ năm 1964 - 1975, Lầu Năm Góc đồn trú Ryan Lightning Bug tại căn cứ không quân ở Biên Hòa (Việt Nam) và U-Tapao (Thái Lan) để tiến hành do thám miền Bắc Việt Nam và cả Trung Quốc, Lào cùng Campuchia. Ryan Lightning Bug được máy bay quân sự C-130 đưa đến khu vực gần nhất có thể rồi tách ra khỏi “phi cơ mẹ” để bắt đầu sứ mệnh do thám. Gần như toàn bộ hoạt động điều khiển được thực hiện thông qua sóng radio. Đây là một biến thể của dòng Ryan Firebee, vốn đóng vai trò nền tảng đối với ngành UAV quân sự Mỹ.

    Thần sấm, con ma

    Nếu UAV chỉ đóng vai trò do thám thì các loại chiến đấu cơ chủ lực tầm xa được Mỹ ưu tiên sử dụng trong cuộc chiến phải kể đến 2 loại: F-105 Thunderchief còn được người dân Việt Nam gọi là “Thần Sấm”, F-4 Phantom có tên Việt hóa là “Con Ma”.

    Theo cuốn F-105 Thunderchief  Units of the Vietnam War của chuyên gia Peter Davies và  tài liệu do không quân Mỹ lưu trữ, sau sự kiện vịnh Bắc bộ xảy ra vào đầu tháng 8.1964, Lầu Năm Góc bắt đầu điều động “Thần Sấm” từ căn cứ Yokota ở Nhật Bản về đồn trú tại căn cứ không quân Korat (Thái Lan). Sau đó, F-105 Thunderchief dần trở thành vũ khí quan trọng mà Washington dùng để không kích miền Bắc Việt Nam. Trong chiến dịch đánh phá cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) hồi tháng 4.1965, “Thần Sấm” đóng vai trò tiên phong của lực lượng Mỹ. Kể từ năm 1964 - 1969, hàng trăm chiếc F-105 Thunderchief được điều động đánh phá miền Bắc Việt Nam với tổng số lần xuất kích được cho là khoảng 20.000 lần. Tuy nhiên, “Thần Sấm” cũng chịu thiệt hại nặng nề trong chiến tranh Việt Nam. Một số tài liệu nghiên cứu dẫn số liệu thống kê cho hay 393 chiếc F-105 Thunderchief đã “thiệt mạng” tại Đông Nam Á, phần lớn do bị bắn hạ trong chiến tranh Việt Nam.

    Trong khi đó, theo tạp chí Air Force và một số tài liệu lịch sử của quân đội Mỹ, từ năm 1966, “Con Ma” luôn đóng vai trò quan trọng đối với Lầu Năm Góc tại chiến trường Việt Nam. Cụ thể, Mỹ thường xuyên đồn trú trên dưới 200 chiếc, thậm chí có lúc lên đến 355 chiếc F-4 Phantom ở Thái Lan và miền Nam Việt Nam để thực hiện các vụ đánh phá trên khắp Đông Dương. Sở dĩ “Con Ma” đóng giữ vai trò quan trọng đối với không quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam vì dòng chiến đấu cơ này được đánh giá tối tân hàng đầu thế giới trong thập niên 1960 và đầu những năm 1970. Đây là loại chiến đấu cơ đa nhiệm có khả năng tấn công linh hoạt. Ngoài ra, F-4 Phantom còn có thể hoạt động trên tàu sân bay nên được Lầu Năm Góc tận dụng để đánh phá miền Bắc nước ta.


    (*): Chỉ đánh phá trong tháng 1.1973
    USAF: Không quân Mỹ; USN: Hải quân Mỹ; USMC: Thủy quân lục chiến Mỹ; VNAF: Không quân Việt Nam Cộng hòa; B-52: Máy bay ném bom B-52

    Pháo đài bay sụp đổ

    Cùng với F-4 Phantom và F-105 Thunderchief, oanh tạc cơ hạng nặng B-52 Stratofortress mang biệt danh “Pháo đài bay” cũng là dòng máy bay chiến đấu từng hoạt động rầm rộ trong chiến tranh Việt Nam. Theo cuốn sách B-52 Stratofortress Units in Combat 1955-73 của chuyên gia Jon Lake, vào tháng 2.1965, Lầu Năm Góc bắt đầu triển khai oanh tạc cơ B-52 đến căn cứ quân sự Anderson ở Guam thuộc Thái Bình Dương. Trước đó, một cơ số đáng kể máy bay tiếp nhiên liệu trên không cũng được điều động tới căn cứ Kadena ở Nhật Bản để chuẩn bị cho B-52 tham chiến. Chẳng bao lâu sau đó, “Pháo đài bay” bắt đầu tham gia các chiến dịch đánh phá, đặc biệt trong chiến dịch Sấm Rền kéo dài từ tháng 3.1965 - 11.1968 đánh phá cơ sở hạ tầng miền Bắc nước ta. Nhằm leo thang chiến tranh, B-52 dần được đưa về đồn trú ở Thái Lan.

     
    (*) Tổng số: bao gồm nhiều loại khác nhau
    (Nguồn: Tạp chí Air Force)

    Đến tháng 12.1972, “Pháo đài bay” được Mỹ dùng làm vũ khí chiến lược để đánh phá miền Bắc nước ta với hy vọng sẽ giành ưu thế chính trị. Trong chiến dịch này, kéo dài 12 ngày từ 18 - 29.12.1972, B-52 đã tiến hành hơn 700 lượt xuất kích đánh phá. Thế nhưng, Lầu Năm Góc đã đại bại khi lực lượng phòng không và không quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh trả quyết liệt. Đây còn được biết đến với tên gọi Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

     

     

    F-105 Thunderchief: tốc độ tối đa khoảng 2.200 km/giờ, tốc độ hành trình khoảng 1.200 km/giờ, tầm bay hơn 3.500 km, trần bay khoảng 14,8 km, trang bị 1 pháo 20 mm cùng 5 gá treo vũ khí có thể mang theo bom và tên lửa.

     


    Chiến đấu cơ F-105 Thunderchief - Ảnh: AF.mil

     

    F-4 Phantom: tốc độ tối đa khoảng 2.300 km/giờ, tốc độ hành trình khoảng 940 km/giờ, bán kính chiến đấu 680 km, tầm bay 2.600 km, trần bay khoảng 18,3 km, trang bị 1 pháo 20 mm và có thể mang theo bom dẫn đường bằng laser, bom nguyên tử, cùng nhiều loại tên lửa đối đất, chống tàu chiến...

     


    Chiến đấu cơ F-4 Phantom - Ảnh: AF.mil

     

    B-52 Stratofortress: tốc độ tối đa khoảng 1.000 km/giờ, tốc độ hành trình khoảng 844 km/giờ, bán kính chiến đấu 7.210 km, tầm bay 16.200 km, trần bay khoảng 15 km, trang bị 1 pháo 20 mm và có thể mang 31 tấn bom cùng tên lửa các loại.

     


    Oanh tạc cơ B-52 - Ảnh: AF.mil

     

    Chiến hạm 'khủng' trợ lực không quân

     

    Trong chiến tranh Việt Nam, dù không có những trận hải chiến quy mô lớn nhưng Mỹ vẫn điều động tàu sân bay, khu trục hạm tham gia mà chủ yếu nhằm hỗ trợ không quân.

     Tàu sân bay USS Ticonderoga nhận nhiên liệu ở vùng duyên hải Việt Nam hồi năm 1966 - Ảnh: US Navy
    Tàu sân bay USS Ticonderoga nhận nhiên liệu ở vùng duyên hải Việt Nam hồi năm 1966 
    - Ảnh: US Navy

    Năm 1964, Washington đã mượn sự kiện vịnh Bắc bộ, xảy ra vào đầu tháng 8.1964, làm cớ để chính thức công khai hoạt động của hải quân nhằm hỗ trợ không quân đánh phá miền bắc nước ta. Từ đây, hải quân Mỹ với các chiến hạm cỡ lớn xem như chính thức tham chiến.

    Hai lớp khu trục hạm chủ lực

    Trong sự kiện trên, chiếc khu trục hạm USS Maddox được xem như “nhân vật chính”. Được biên chế chính thức vào năm 1944 và từng trải qua Thế chiến 2 lẫn Chiến tranh Triều Tiên, USS Maddox là một chiến hạm thuộc lớp Allen M.Sumner có độ choán nước khoảng 2.200 tấn, chủ yếu mang theo súng pháo nhiều kích cỡ và một số loại ngư lôi. Theo tài liệu lưu trữ của hải quân Mỹ, chiến hạm này sau sự kiện vịnh Bắc bộ đã tiếp tục hoạt động tại miền Nam Việt Nam thêm một thời gian rồi quay về Mỹ vào tháng 9.1964. Về sau, chiến hạm này được Đài Loan mua lại.

     

     USS Maddox từng là “kẻ quấy rối” trong sự kiện vịnh Bắc bộ - Ảnh: US Navy
    USS Maddox từng là “kẻ quấy rối” trong sự kiện vịnh Bắc bộ - Ảnh: US Navy

     

    Trong Chiến tranh Việt Nam, USS Maddox chỉ là một trong nhiều tàu khu trục được Mỹ điều động tham chiến. Vào năm 1965, Lầu Năm Góc còn điều động 2 tàu khu trục USS Black (DD 666) và USS Higbee (DD 806) đảm trách việc kiểm soát vùng biển Việt Nam với tham vọng cắt đứt đường tiếp vận của miền Bắc vào miền Nam. Trong đó, USS Black thuộc lớp Fletcher, “tiền nhiệm” của lớp Allen M.Sumner, có độ choán nước toàn tải lên đến 2.500 tấn.

    Chiếc USS Higbee thì thuộc lớp Gearing có độ choán nước toàn tải khoảng 3.400 tấn và là một trong những lớp tàu chủ lực của hải quân Mỹ kể từ sau Thế chiến 2. Cả 2 chiến hạm USS Black và USS Higbee đều từng được Mỹ sử dụng triệt để từ thời Thế chiến 2 và Chiến tranh Triều Tiên.

    Tài liệu của hải quân Mỹ còn nêu ra một số tàu khu trục khác cũng từng tham gia Chiến tranh Việt Nam. Điển hình như chiếc USS John R.Craig, cùng thuộc lớp Gearing giống USS Higbee, đã tham gia nhiều chiến dịch khác nhau.

    Thực tế, trước khi USS Maddox bị phát hiện do thám ở vịnh Bắc bộ, chính chiếc USS John R.Craig đã đảm trách nhiệm vụ tương tự diễn ra hồi tháng 2 và tháng 3.1964, theo cuốn The Naval Institute Historical Atlas of the U.S. Navy của Craig L.Symonds. Cuối năm 1966, chiến hạm USS John R.Craig và tàu khu trục USS Hamner, cũng thuộc lớp Gearing, còn cùng nhau tham gia một chiến dịch đánh phá miền Bắc.

     

     Tàu chỉ huy CCB - Ảnh: militaryfactory
    Tàu chỉ huy CCB - Ảnh: militaryfactory

     

    Cũng trong giai đoạn cuối năm 1966, khu trục hạm USS O'Brien, thuộc lớp Allen M.Sumner giống chiếc USS Maddox, đã chạm trán với các đơn vị pháo binh ở vùng duyên hải Quảng Bình.

    Như vậy, trong suốt Chiến tranh Việt Nam, Allen M.Sumner và Gearing được xem như hai lớp tàu khu trục chủ lực mà Mỹ dùng để quấy rối miền Bắc Việt Nam và kiểm soát tuyến hàng hải nối liền hai miền Việt Nam.

    Hàng loạt tàu sân bay

    Trong khi đó, Mỹ cũng triển khai khá nhiều tàu sân bay tham chiến tại Việt Nam. Điển hình trong số này phải kể đến chiếc USS Ticonderoga. Đầu tháng 8.1964, chiến đấu cơ đã xuất phát từ USS Ticonderoga để tấn công các tàu chiến của Việt Nam Dân chủ cộng hòa đang tuần tra tại vịnh Bắc bộ. USS Ticonderoga thuộc lớp Essex với độ choán nước toàn tải hơn 30.000 tấn, có thể chở theo đến 100 máy bay các loại. Essex cũng là lớp tàu sân bay có số lượng chiến hạm tham chiến Việt Nam nhiều nhất với không dưới 10 chiếc. Số tàu này tham chiến với nhiều mức độ khác nhau.

     

     Một đoàn tàu quân sự Mỹ di chuyển trên sông tại Việt Nam - Ảnh: Warboats.org
    Một đoàn tàu quân sự Mỹ di chuyển trên sông tại Việt Nam - Ảnh: Warboats.org

     

    Sau sự kiện vịnh Bắc bộ, ngày 5.8.1964, USS Ticonderoga còn cùng với tàu sân bay USS Constellation nhận lệnh của Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson đánh phá các cơ sở hạ tầng ở miền Bắc nước ta. USS Constellation thuộc lớp Kitty Hawk có độ choán nước toàn tải hơn 80.000 tấn và được xem như loại tàu sân bay hiện đại nhất nhì thế giới vào thời điểm trên. Lớp tàu này còn hoạt động đến những năm đầu tiên của thế kỷ 21. Cùng thuộc lớp Kitty Hawk, chiếc USS Kitty Hawk cũng đã tham chiến tại Việt Nam.

    Ngoài số hàng không mẫu hạm trên, không dưới 10 tàu sân bay khác cũng từng được Lầu Năm Góc điều động tham chiến tại Việt Nam bằng các hình thức khác nhau, cả chính thức lẫn không chính thức. Trong đó, cả 3 chiếc thuộc lớp Midway là USS Franklin D. Roosevelt, USS Midway và USS Coral Sea đều tham chiến. Đặc biệt, chiếc USS  Midway còn gắn liền với hình ảnh trực thăng bị xô đổ xuống biển để mở rộng đường băng cho một chiếc Cessna O-1 Bird Dog đáp xuống trong quá trình di tản khỏi Việt Nam hồi tháng 4.1975.

     

    Tham vọng kiểm soát vùng sông nước

    Đối với Mỹ, nếu như chiến trường trên biển không quá căng thẳng trong chiến tranh Việt Nam thì việc quyết giành quyền kiểm soát các tuyến sông, hoặc vùng duyên hải lại đặt ra nhiều thách thức. Nhất là tại các khu vực như đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì thế, nước này đã phát triển một loạt phương tiện thủy chiến với nhiều kích cỡ khác nhau để đáp ứng các mục tiêu: chuyển quân, đổ bộ, tuần tiễu...

    Theo chuyên trang Warboats.org, Mỹ đã triển khai hơn 20 loại phương tiện như thế tại chiến trường Việt Nam. Nổi bật trong số này phải kể đến dòng LCM 6 chuyên phụ trách chở quân và khí tài đổ bộ. Phương tiện này có độ choán nước khoảng 60 tấn, dài 17,1 m, vận tốc tối đa khoảng 17 km/giờ, có thể chở khoảng 80 binh sĩ hoặc 34 tấn thiết bị. Ở Việt Nam, Mỹ còn đẩy mạnh một biến thể của LCM 6 là dòng Tango, được trang bị các loại vũ khí như súng máy 7,62 mm, súng phóng lựu...

    Cũng để đáp ứng nhu cầu kiểm soát các vùng sông nước, Mỹ còn triển khai dòng tàu CCB có hỏa lực mạnh, thường đóng vai trò mở đường cho các tàu chở quân. CCB dài khoảng 18 m, độ choán nước 80 tấn, được trang bị pháo 40 mm, súng máy 12,7 mm, súng phóng lựu và thậm chí có thể mang theo một tháp pháo loại 80 mm. Ngoài ra, thuộc số phương tiện trên, Mỹ còn triển khai các loại tàu tuần tra cao tốc, tàu đổ bộ cho lực lượng SEAL... tại chiến trường Việt Nam.

     'Đồ chơi' của lục quân

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN - Kỳ 3: 'Đồ chơi' của lục quân 1
    Một chiếc AH-1 Cobra tác chiến tại Việt Nam - Ảnh: US Army

     

    Nhắc đến xe chiến đấu của lục quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nhiều người luôn nhớ dòng xe bọc thép M113 đầu tiên, bởi đây là mẫu xe được Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa đánh giá như một phương tiện chủ lực để thực thi học thuyết chiến tranh của mình. Dòng xe này dài khoảng 4,8 m, rộng khoảng 2,8 m, có lớp thép dày từ  12 - 38 mm, tùy phiên bản, có thể chở theo 11 người, chưa tính 2 người phụ trách điều khiển. Vận tốc tối đa trên bờ lên đến 67 km/giờ và vận tốc khi di chuyển trong nước đạt gần 6 km/giờ.

    Tư liệu từ cuốn Vietnam Tracks: Armor in Battle 1945-75 của Simon Dunstan cho biết lô hàng 30 chiếc M113 đầu tiên đến Việt Nam vào ngày 30.3.1962. Kể từ đây, hàng ngàn chiếc M113 đã được Mỹ triển khai cho lục quân nước này cũng như cung cấp cho quân đội Việt Nam Cộng hòa tại chiến trường Việt Nam. Dòng xe này được chia làm nhiều phiên bản để đáp ứng các nhiệm vụ khác nhau. Không chỉ vận chuyển binh sĩ và hàng hóa, M113 còn được trang bị nhiều loại pháo 40 mm cùng các loại súng máy có cỡ đạn lên đến 12,7 mm. Ngoài ra, một số phiên bản còn sở hữu súng chống tăng. Từ đầu thập niên 1960, M113 dần trở thành vũ khí chủ lực để binh sĩ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong hầu hết các vụ đụng độ.

    Một vũ khí quan trọng của lục quân Mỹ và cũng rất quen thuộc với người dân Việt Nam hồi thập niên 1960 - 1970 là dòng xe tăng tấn công chủ lực M48 Patton và xe tăng hạng nhẹ M41 Walker Bulldog. Trong đó, loại M48 Patton nặng khoảng 45 tấn, có lớp giáp dày 120 mm và sở hữu loại pháo 90 mm cùng một số súng máy. Loại M41 Walker Bulldog nặng khoảng 23,5 tấn, có lớp giáp dày 38 mm, trang bị pháo 79 mm cùng nhiều loại súng máy.

     

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN - Kỳ 3: 'Đồ chơi' của lục quân 2
    Tổng thống Johnson dùng “jeep Việt Nam” để thăm binh sĩ Mỹ ở Cam Ranh vào tháng 10.1966 - Ảnh: Olive-drab.com

     

    “Jeep Việt Nam”

    Trong hàng loạt khí tài của quân đội Mỹ, có những loại khí tài được dùng phổ biến ở chiến trường Việt Nam đến mức hai chữ Việt Nam được gắn liền trong tên gọi. Điển hình như dòng xe M151 MUTT mà nhiều người chơi xe lẫn quân nhân Mỹ vẫn quen gọi là “jeep Việt Nam” (Vietnam jeep). MUTT được viết tắt từ cụm “Military Utility Tactical Truck” từng được dịch là “Vận xa chiến thuật”. Năm 1951, hãng Ford nhận hợp đồng thiết kế mẫu xe vận tải chiến thuật để đáp ứng nhu cầu mới cho lục quân Mỹ thời hậu Thế chiến 2. M151 MUTT ra đời từ hợp đồng trên. Mặc dù được Ford thiết kế nhưng về sau, 2 hãng xe khác là AM General và Kaiser cũng được nhận hợp đồng sản xuất. Vì thế, có đến 3 hãng tham gia sản xuất dòng xe này.

    Năm 1959, M151 chính thức được trang bị cho lục quân Mỹ và Lầu Năm Góc chọn Việt Nam là nơi triển khai đầu tiên. Đó là một trong các lý do quan trọng khiến M151 có tên “jeep Việt Nam”. Theo cuốn HMMWV Humvee 1980-2005: US Army tactical vehicle của Steven Zaloga, từ thập niên 1960, lục quân Mỹ sử dụng M151 MUTT rất phổ biến trong chiến tranh Việt Nam với nhiều công năng khác nhau như: tuần tra, xe chuyên dụng cho các cấp chỉ huy, cứu thương, xe chiến đấu… Để chiến đấu, “Vietnam jeep” có thể được trang bị thêm súng máy và một số vũ khí khác. Đặc biệt, trong chuyến thăm căn cứ quân sự Mỹ ở Cam Ranh vào ngày 26.10.1966, Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson cũng dùng “jeep Việt Nam” làm phương tiện đi ủy lạo binh sĩ.

    Đến năm 1980, xe M151 bị ngưng sản xuất nhưng tới nay vẫn trở thành món hàng mà dân chơi xe ở nhiều nước tìm mua.

     

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN - Kỳ 3: 'Đồ chơi' của lục quân 3
    Xe bọc thép M113 trên đường phố Sài Gòn vào tháng 11.1963

     

    Khí tài không thể thiếu

    Bên cạnh xe tăng và xe bọc thép, lục quân và cả thủy quân lục chiến Mỹ còn sử dụng máy bay trực thăng để vận tải, chuyển quân và tác chiến.

    Về máy bay trực thăng chiến đấu, dòng AH-1 Cobra gần như được xem là loại nổi bật nhất của lục quân Mỹ tại Việt Nam. Theo cuốn US Army AH-1 Cobra Units in Vietnam của chuyên gia Jonathan Bernstein, ngày 29.8.1967, một nhóm 50 người do trung tá Paul Anderson dẫn đầu đã đến căn cứ không quân Biên Hòa để bắt đầu chương trình triển khai trực thăng chiến đấu AH-1 Cobra tại Việt Nam. Dòng máy bay này ra đời trước đó chưa bao lâu và chỉ mới được thử nghiệm chuyến đầu tiên vào tháng 9.1965. AH-1 Cobra được điều khiển bởi 2 phi công, có vận tốc tối đa khoảng 270 km/giờ, tầm bay 510 km, trần bay 3.700 m, được trang bị 1 pháo 20 mm và có thể mang theo các loại rốc két và tên lửa chống xe tăng. Tổng cộng, hơn 1.000 chiếc AH-1 Cobra được điều động đến Việt Nam từ năm 1967 - 1973 và hàng trăm chiếc trong số đó bị bắn rơi hoặc bị phá hủy do tai nạn.

    Trong khi đó, dòng CH-47 Chinook được xem là biểu tượng cho lực lượng máy bay vận tải mà Mỹ sử dụng tại chiến trường Việt Nam. Theo cuốn Vietnam Choppers: Helicopters in Battle 1950-1975 của chuyên gia Simon Dunstan, những chiếc CH-47 Chinook đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1965. Dòng máy bay này có vận tốc tối đa khoảng 300 km/giờ, tầm bay 700 km, có thể chở theo 12 tấn hàng hóa và thường chỉ được trang bị một súng máy để tự bảo vệ. Quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã triển khai khoảng 700 chiếc tại miền Nam Việt Nam. Chỉ trong 2 năm đầu tiên có mặt, loại trực thăng vận tải này thực hiện khoảng 238.000 chuyến vận chuyển, chở hơn 610.000 tấn hàng hóa và 671.000 lượt người.

     

    Chiến xa hoán cải

     

    Vũ khí Mỹ trong chiến tranh VN - Kỳ 3: 'Đồ chơi' của lục quân 4
    Một “chiến xa hoán cải” được lưu giữ tại Bảo tàng vận tải lục quân ở bang Virginia (Mỹ) - Ảnh: US Army 

     

    Theo tài liệu do lực lượng lục quân Mỹ lưu trữ, ngoại trừ các xe chiến đấu được cung cấp bởi Lầu Năm Góc, quân đội nước này tại Việt Nam còn tự hoán cải một số loại xe vận tải trở thành chiến xa. Điển hình là việc “tự chế” một mẫu xe tải vũ trang dựa trên dòng xe tải 2,5 tấn. Vào năm 1967, khi vận tải hàng hóa và binh sĩ qua An Khê và Pleiku ở vùng Tây nguyên, lực lượng Mỹ thường xuyên chịu thương vong nặng nề trước chiến thuật mai phục tấn công của binh sĩ Việt Nam. Trong khi đó, nhiều chuyến vận chuyển không thể điều động xe tăng hay xe bọc thép mà chỉ được bảo vệ bởi các xe jeep. Vì vậy, các sĩ quan lục quân Mỹ tại Việt Nam đã tổ chức chỉnh sửa tăng cường lớp thép và trang bị thêm nhiều súng máy, pháo cỡ nhỏ cho loại xe tải 2,5 tấn. Kể từ đó, dòng xe tải vũ trang này ra đời. Loại xe này không chính thức được Lầu Năm Góc thừa nhận nhưng một số chỉ huy lục quân Mỹ tại Việt Nam vẫn âm thầm khuyến khích cấp dưới hoán cải.

    Nhấn vào đây để tải về
    Nhắn tin cho tác giả
    Báo tư liệu sai quy định
    Mở thư mục chứa tư liệu này

    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐIỂM TIN TRONG NGÀY

    Downdload

    Liên kết TV tư liệu Violet

    CHƯƠNG TRÌNH Kiểm tra code

    ĐTN BLOG

    Chia sẻ bởi : http://violet.vn/huudiep1983


    Nhịp sinh học của tôi

    Bộ sưu tập Hoa đẹp

    Tom & Jery

    Chào mừng kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập QDND Việt Nam 22/12/1944-22/12/2015)

    Chúc mừng năm mới 2014

    22/12