Tổ Quốc yêu thương


CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2014


Đồng hồ

LỊCH ÂM DƯƠNG

Mừng ngày Nhà Giáo 20.11

20112

Lời hay ý đẹp

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Happy_new_year.swf Yak130_In_Action_2013_HD1.flv Yak130_In_Action_2013_HD.flv 144.flv May_Bay_Nem_Bom_B2__Khoa_hoc_quan_su.flv Be200477x28920120820161408.jpg Download.jpg Viet_Nam_Danh_Roi_May_Bay_B52_nhu_the_nao.flv 35__2007_Mi35_MAKS_2007.flv 214____2013_Tu214ON_Open_Skies_MAKS_2013.flv ____76__2013_The_Best_of_the_Chinese_IL76_MAKS_2013.flv 35__2013_Mi35M_MAKS_2013_35_Mi35.flv __2009_34_28_171_52_Helicopters_MAKS_2009_Mi34_Mi28_Mi171_Ka52.flv So_sanh_dan_may_bay_chien_dau_sieu_khung_cua_khong_quan_nga_my.flv 2_1.jpg Canh_dep_Viet_Nam_Dat_Nuoc_Con_Nguoi.flv Deo3.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Danh lam Thắng cảnh

    www.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.ws

    Liên kết Web hữu ích

    Mời khách dùng trà

    Liên kết

    Thời tiết

    Tiện ích Web

    Bách khoa toàn thư


    Chơi xấu

    Chúc mừng năm mới

    Chào mừng kỷ niện 71 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam*

    Bien dao

    Khám phá kho súng máy của bộ đội Việt Nam

    52998517.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Văn Thâm (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:06' 27-08-2014
    Dung lượng: 17.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

    Khám phá kho súng máy của bộ đội Việt Nam

    (Kiến Thức) - Chủng loại súng máy cấp phân đội của Việt Nam khá phong phú, chủ yếu đến từ Nga và các nước phương Tây.
    Trung liên RPD
    Súng máy RPD (Ruchnoy Pulemet Degtyarova- Trung liên Degtyarov) là một trong những khẩu súng đầu tiên sử dụng loại đạn mới 7,62x39mm. RPD bắt đầu được phát triển từ giữa năm 1944 và là vũ khí tiêu chuẩn cấp tiểu đội trong Quân đội Liên Xô từ đầu những năm 1950 đến những năm 1960, sau đó được thay thế bởi trung liên RPK – mặc dù sau đó đã có những phản hồi rằng đó là một sai lầm (!)
    Tuy vậy thì RPD vẫn còn được lưu trữ một số trong kho của Quân đội Nga cũng như được xuất khẩu rộng rãi sang nhiều quốc gia khác, cả đồng minh của Liên Xô lẫn các nước có nhu cầu một loại vũ khí tốt, bền, rẻ. Ngoài xuất khẩu thì RPD còn được sản xuất tại nhiều quốc gia, ví dụ như Trung Quốc với tên gọi trung liên Type 56 hay Việt Nam.
    RPD được sản xuất tại nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam v.v... 
    RPD có thể xem như là một bước phát triển dài của họ súng máy Degtyarov, kế tục khẩu súng máy DP-1927 lừng danh trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, nó sử dụng cơ chế trích khí RPD chỉ có một chế độ bắn liên thanh.
    RPD sử dụng hộp đạn dây dạng tròn gắn dưới súng, mỗi hộp đạn có 100 viên, tuy nhiên vì dây đạn có thể sử dụng lại nên xạ thủ trung liên RPD khi bắn xong sẽ phải gom dây lại, khá vất vả nếu phải chiến đấu liên tục. Hộp đạn có tay cầm riêng, nhưng xạ thủ có túi chuyên đựng hộp đạn riêng. Nòng súng không dễ để thay, nhưng RPD có thế phát huy hỏa lực rất tốt ở tầm 800m.
     RPD là vũ khí tiêu chuẩn trong tiểu đội bộ binh của Quân đội Việt Nam.
    Trung liên RPD bắt đầu được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng từ những năm 1960, hiện nay nó vẫn là loại vũ khí hỏa lực cấp tiểu đội chiếm số lượng nhiều nhất so với các loại súng máy cấp tiểu đội/đại đội khác, và là vũ khí cơ bản số lượng nhiều chỉ sau AK-47 trong biên chế.
     
    Thông số kỹ thuật trung liên RPD
    Cỡ nòng: 7,62x39mm
    Khối lượng: 7,4 kg không đạn
    Dài: 1037mm
    Chiều dài nòng: 520mm
    Cơ chế tiếp đạn: Hộp đạn dây 100 viên
    Tốc độ bắn: 650 viên/phút
    Sơ tốc đầu nòng: 735 m/s

     

     
     
    Trung liên RPK
    Từ giữa những năm 1950, Quân đội Liên Xô đã lên chương trình phát triển hệ vũ khí mới thay cho súng trường CKC, AK và trung liên RPD, kết quả năm 1961 họ đã chọn hệ súng Kalashnikov với khẩu AKM và trung liên RPK (Ruchnoy Pulemjot Kalashnikova - súng máy hạng nhẹ Kalashnikov).
    Các phiên bản sao chép RPK được sử dụng tại nhiều nước, hiện nay quân đội Nga sử dụng RPK cỡ đạn 5,45x39mm gọi là RPK-74M cũng như xuất khẩu biến thể sử dụng đạn 7,62mm RPKM.
    RPK với hộp đạn tròn.
    Về cấu tạo, RPK có máy súng giống với họ nhà AK-47, cũng có 2 chế độ bắn là phát một và liên thanh. Nòng súng được lắp cố định và không thể thay thế trên chiến trường.
    RPK chỉ lắp được băng đạn dạng lò xo, không lắp được hộp đạn dây, băng đạn của súng AK-47 có thể lắp lẫn với RPK, còn băng đạn thiết kế cho RPK là băng đạn 40 viên hoặc băng tròn 75 viên, tuy nhiên thì băng đạn tròn sắt này vừa nặng vừa đắt tiền, hơn nữa khi nạp đạn vào băng phải nạp từng viên giống như băng cong.
    Mặt cắt thiết kế RPK 
    Thước ngắm của RPK cũng tương tự trên AKM, với các vạch chia thước bắn từ 100-1.000m, tuy vậy thì thước của RPK còn có cơ chế chỉnh lượng gió. RPK có 2 chân chống phụ bằng thép, một số phiên bản của RPK như RPKS cho lính dù có báng gập lại được, RPKN có khay gắn kính ngắm đêm bên hông.
    Lực lượng Hải quân đánh bộ trên quần đảo Trường Sa cũng sử dụng RPK.
    Cũng như RPD, Quân đội Việt Nam sản xuất và sử dụng RPK từ khá lâu, mặc dù số lượng RPK ít hơn nhiều so với RPD. RPK thường được biên chế trong các đơn vị bộ binh cơ giới như Sư 308, 320, 304, Hải quân đánh bộ..
     
    Thông số kỹ thuật trung liên RPK
    Cỡ nòng: 7,62x39mm
    Khối lượng: 4,8 kg không đạn
    Dài: 1040 mm
    Chiều dài nòng: 590 mm
    Cơ chế tiếp đạn: Băng đạn cong 40 viên hoặc băng tròn 75 viên
    Tốc độ bắn: 600 viên/phút
    Trung liên Negev Commando (Israel)
    Vào cuối những năm 1980, Quân đội Israel yêu cầu cần phải phát triển một loại súng máy cỡ nòng 5,56mm mới đáng tin cậy, nhưng nhẹ hơn khẩu M240 FN MAG cho lính bộ binh. Khẩu FN Minimi được giới thiệu cho họ và được thử nghiệm nhưng đã không được chấp nhận. Mẫu thiết kế Negev đầu tiên chế tạo bởi công ty vũ khí Israel (IWI) đã được cung cấp số lượng nhỏ cho lữ đoàn tinh nhuệ Givati sử dụng thực nghiệm trên chiến trường năm 1993, phiên bản đời đầu này gặp nhiều vấn đề trong khả năng nạp đạn, khá nhạy cảm với cát và bụi, cho nên mất thêm 3 năm nữa để tiếp tục nghiên cứu.
    Từ giữa năm 1996 IWI bắt đầu cung cấp Negev cho Quân đội Israel và đến năm 2002 Negev đã trở thành súng máy hạng nhẹ tiêu chuẩn trong quân đội nước này. Binh sĩ Israel thích Negev ở điểm nó nhẹ hơn và dễ điều khiển hơn so với loại M240 nặng nề, và hoàn toàn dễ dàng sử dụng bởi chỉ một người lính, hơn nữa M240 lại mất nhiều công bảo dưỡng chăm sóc trong môi trường cát bụi hơn Negev.
     Phiên bản Negev Commando của Việt Nam khá đa năng với báng gấp, giá 2 chân tháo được.
    Negev sử dụng cơ chế thay nòng nhanh, với 2 loại nòng: tiêu chuẩn và nòng ngắn (commando). Negev có ưu điểm là nó có thể sử dụng cả băng đạn tiêu chuẩn của súng trường tấn công lẫn dây đạn trong hộp. Đạn trong băng dây sẽ được đưa vào từ khe phía trên, bên trái súng, còn hộp đạn sẽ lắp bên dưới súng, khi cần có thể lắp băng đạn 30 viên chuẩn M16 thay cho hộp đạn dây. Hộp đạn dây sử dụng trên Negev thường có khoảng 150 hoặc 200 viên. Ban đầu hộp đạn này có dạng tròn nhưng về sau thay thế bởi hộp dạng nửa tròn đáng tin cậy hơn.
    Khi cần, Negev có thể lắp băng đạn súng trường, gọn chẳng khác gì một khẩu súng trường tấn công 
     
    Trang bị tiêu chuẩn trên Negev gồm tay cầm, ốp lót bằng nhựa tổng hợp và báng gập chuẩn Galil. Có một điều thú vị là ở khẩu Negev Commando (mà Hải quân Đánh bộ Việt Nam sử dụng) nòng ngắn, nếu sử dụng đạn tiếp bằng băng 30 viên và tháo giá 2 chân đi thì trung liên Negev sẽ trở thành một khẩu “súng trường tấn công” đầy uy lực, mặc dù làm như thế thì khẩu “súng trường tấn công” này hơi nặng. Nó có thể được sử dụng trong trường hợp tác chiến cự ly gần, cung cấp khả năng yểm trợ cao trong khu vực xác định, nhờ vào nòng dài và nhanh chóng trong thay nòng của nó.
    Súng máy Negev hiện được trang bị hạn chế trong các Lữ đoàn Hải quân đánh bộ Việt Nam cùng với súng trường Tavor CTAR-21, và bản trung liên Negev mà Hải quân Việt Nam sử dụng là bản Commando nòng ngắn với các ưu điểm như đã nói ở trên.
     
     
    Thông số kỹ thuật trung liên Negev Commando
    Cỡ nòng: 5,56x45mm
    Khối lượng: 7kg không đạn - 9,55kg với hộp đạn 150 viên
    Dài: 780/680mm (Báng mở/báng gập)
    Chiều dài nòng: 330 mm
    Cơ chế tiếp đạn: Hộp đạn dây 150 viên hoặc băng đạn 30 viên
    Tốc độ bắn: 850-1150 viên/phút
    Sơ tốc đầu nòng: 850m/s
    Tầm bắn hiệu quả: 800m
     

    (Kiến Thức) - Ngoài các súng máy PK/PKM Liên Xô, Việt Nam được cho là đã mua thiết kế FN Minimi của Bỉ để trang bị hạn chế cho một số đơn vị.
    Đại liên PK/PKM/PKMS
    Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, các quốc gia đều phải nể phục người Đức ở suy nghĩ “súng máy đa năng” của họ với những khẩu MG-34, MG-42 huyền thoại, đặc biệt ở tính kinh tế và khả năng hậu cần. Quân đội Liên Xô lúc này cần một khẩu súng máy có thể sử dụng trong tất cả các chức năng như vũ khí hỏa lựa tiểu đội bộ binh, súng lắp trên xe tăng, máy bay sử dụng đạn 7,62x54R.
    Kết quả là năm 1961 thiết kế của nhà chế tạo nổi tiếng Kalashnikov đã được chấp thuận đưa vào biên chế Quân đội Liên Xô với tên gọi PK gồm 4 phiên bản chính: súng máy PK hạng nhẹ hỏa lực cấp tiểu đội bắn từ giá tích hợp sẵn (giá 2 chân); súng máy PKS hạng trung bắn từ giá 3 chân; súng máy đồng trục gắn trên xe tăng PKT và phiên bản gắn trên xe thiết giáp hoặc máy bay trực thăng PKB. Đến năm 1969 dòng súng máy này được nâng cấp đồng loạt và có tên mới là PKM, tương ứng cũng có PKMS và PKMT.
    PKM với giá 3 chân biên chế trong quân đội ta.
    Các phiên bản sao chép của PKM được sản xuất và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Bulgaria, Trung Quốc, Iran, Ba Lan, Serbia, Việt Nam... cả ở cỡ đạn 7,62x54R hay 7,62x51NATO.
    Đại liên PK sử dụng cơ chế trích khí, làm mát bằng không khí, băng đạn dây và một chế độ bắn duy nhất là liên thanh. Nòng súng có thể dễ dàng thay thế, hộp đạn tiêu chuẩn của PK là 100 viên nhưng cũng có hộp 200 hoặc 250 viên (cho PKS). Dây đạn được nạp sẵn trong hộp, và hộp đạn này gắn ngay chính giữa thân dưới của súng giúp tạo thuận lợi cho di chuyển.
    Xạ thủ PKMS nhắm bắn.
    Báng của PK làm bằng gỗ với thiết kế giúp xạ thủ giữ chặt súng, giảm độ rung khi bắn, và tay cầm bằng gỗ hoặc nhựa tổng hợp. Giá 2 chân của PK đặt gần giữa nòng súng chứ không phải về gần phía đầu nòng như RPK, RPD. Bên cạnh đó PK/PKM khi cần có thể lắp vào giá 3 chân thiết kế bởi Samozhenkov để biến thành khẩu PKS, giá 3 chân này có cơ chế đặt biệt giúp tùy chỉnh về góc bắn và hướng bắn, và có thể đảm đương tốt chức năng phòng không.
    Thước ngắm trên PK/PKM chia tầm bắn đến 1.500m và cơ chế canh lượng gió. Một số phiên bản PK còn có khay lắp thiết bị ngắm bắn như PKN, hiện nay các phiên bản PKM/PKMS được lực lượng đặc nhiệm Nga (Spetsnaz) đều có khay tích hợp thiết bị lên súng như kính nhìn đêm, kính ngắm nhanh Holographic, ACOG.
    Sau này khi PKM ra đời có một chút khác biệt so với PK như nòng ngắn hơn một chút (645mm so với 658mm), nhẹ hơn, ngoài nòng súng không xẻ rãnh, giá 3 chân Stepanov mới nhẹ hơn, có chỗ đựng hộp đạn giúp di chuyển súng trên chiến trường không phải tháo hộp đạn ra và lắp lại khi đến vị trí bắn.
    Tóm lại, PKM là vũ khí yểm trợ cấp tiểu đội rất tốt, hỏa lực mạnh, giá rẻ dễ bảo trì bảo dưỡng nên hiện nay nó là vũ khí ưa thích của các lực lượng vũ trang nhiều nước lẫn các tổ chức quân sự qui mô nhỏ.
    PKMS ở Việt Nam thường lắp giá 3 chân. Ảnh: diễn đàn quansuvn
    Trong Quân đội Việt Nam, PK/PKM/PKMS mặc dù đã tự sản xuất nhưng được trang bị không nhiều bằng RPD, chúng chủ yếu trang bị ở các đơn vị “thiện chiến” như bộ binh cơ giới, các sư đoàn bộ binh chủ lực của các quân khu, quân đoàn và trong lực lượng Hải quân đánh bộ.
     
    Thông số kỹ thuật PK/PKM/PKMS
    Cỡ nòng: 7,62x54R
    Khối lượng: 7,5 kg không đạn
    Dài: 1160 mm
    Chiều dài nòng: 645 mm
    Cơ chế tiếp đạn: Hộp đạn dây 100, 200 hoặc 250 viên
    Tốc độ bắn: 650 viên/phút
    Sơ tốc đầu nòng: 825 m/s
    Tầm bắn hiệu quả: 1.500 m
    Trung liên FN Minimi Para (Bỉ)
    Súng máy Minimi được công ty FN Herstal của Bỉ bắt đầu nghiên cứu phát triển cuối những năm 1970 đầu 1980. Bắt đầu sản xuất hàng loạt năm 1982 và cũng được Quân đội Mỹ đưa vào biên chế với định danh M249 SAW. Kể từ khi được ra mắt Minimi đã có rất nhiều biến thể và được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội nhiều quốc gia.
    Đầu tiên là phiên bản Para (lính dù) với nòng ngắn và báng rút, khẩu súng chấp nhận giảm sức mạnh và tầm bắn để tăng khả năng gọn nhẹ và dễ dàng sử dụng, tiếp đó là phiên bản SPW dành cho lực lượng đặc nhiệm, với báng rút giống với Para, chiều dài nòng dài hơn bản Para nhưng ngắn hơn bản tiêu chuẩn, giá Picatinny để gắn kính ngắm hay thiết bị phụ trợ. Để giảm khối lượng, tuy chọn nạp đạn từ dây lẫn băng đạn cong giống Para bị loại bỏ, thay vào đó là chỉ nạp được bằng dây đạn và được lực lượng đặc nhiệm Mỹ sử dụng với tên gọi Mk.46 Model 0.
    Minimi Para có thể dễ dàng thay nòng với tay cầm phụ.
    Súng máy FN Minimi thực sự là một thiết kế thành công với những ưu điểm về độ tin cậy và sức mạnh hỏa lực, thậm chí những báo cáo về hỏng hóc của M249 SAW ở Iraq chỉ đơn giản có nguyên nhân là tuổi thọ của chúng đã hơn 10 năm và hỏng vì sử dụng quá nhiều.
    FN Minimi có cơ chế thay nòng nhanh giống PKM hay Negev, thậm chí có tay nắm giúp đơn giản hóa công việc này. Và cũng giống như Negev, Minimi có 2 cơ chế tiếp đạn: sử dụng dây đạn lẫn sử dụng băng đạn cong dạng M16. Tốc độ bắn khi sử dụng dây đạn đạt 750 viên/phút trong khi sử dụng băng cong là 1.000 viên/phút.
    Các phiên bản SPW và Mk46 mới nhất chỉ sử dụng cơ chế nạp đạn bằng dây để giảm khối lượng, dây đạn 200 viên được đặt trong hộp nhựa tổng hợp gắn dưới súng. Giá 2 chân có thể chỉnh độ cao với 3 nấc chỉnh đi kèm với súng nhưng khi cần nó có thể dễ dàng gắn vào giá 3 chân hoặc gắn lên xe cơ giới.
    Cơ chế lắp băng đạn con 30 viên trên Minimi Para.
     
    Theo một số nguồn tin, Việt Nam cũng mua FN Minimi nhưng là phiên bản Para với báng rút, tuy vậy thì số lượng chưa được nhiều như Negev.
     
    Thông số kỹ thuật FN Minimi Para
    Cỡ nòng: 5,56x45mm
    Khối lượng: 6,56kg không đạn - 9,55kg với hộp đạn 150 viên
    Dài: 914/766mm (Báng mở/báng rút)
    Chiều dài nòng: 349 mm
    Cơ chế tiếp đạn: Hộp đạn dây 200 viên hoặc băng đạn 30 viên
    Tốc độ bắn: 850-1150 viên/phút
    Sơ tốc đầu nòng: 866 m/s
    Tầm bắn hiệu quả: 1.000 m
    (Kiến Thức) - Bên cạnh các mẫu súng máy Liên Xô (Nga), bộ đội Việt Nam còn sử dụng các kiểu súng Mỹ nhưng với số lượng rất ít.
     
    Gửi ý kiến

    ĐIỂM TIN TRONG NGÀY

    Downdload

    Liên kết TV tư liệu Violet

    CHƯƠNG TRÌNH Kiểm tra code

    ĐTN BLOG

    Chia sẻ bởi : http://violet.vn/huudiep1983


    Nhịp sinh học của tôi

    Bộ sưu tập Hoa đẹp

    Tom & Jery

    Chào mừng kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập QDND Việt Nam 22/12/1944-22/12/2015)

    Chúc mừng năm mới 2014

    22/12